HIỆPTHÔNG
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ - Nghi thức cử hành tại Địa phương Thánh hiến Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cho Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu 2026
Tài liệu này được biên soạn để sử dụng tại các giáo phận và giáo xứ, nhằm khuyến khích việc cử hành nghi thức thánh hiến Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Tài liệu này là một hướng dẫn để cử hành trong Thánh Lễ hoặc trong nghi thức Phụng vụ Lời Chúa.
Khi cử hành trong Thánh Lễ:
1. Các lời nguyện có thể được lấy từ Sách Lễ Rôma, phần Lễ ngoại lịch (Votive Masses): số 8 – Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, sử dụng phẩm phục màu trắng. Đối với Nghi thức Thống hối, khuyến nghị dùng các mẫu lời xướng I hoặc III được tìm thấy trong Phụ lục VI của Sách Lễ Rôma. Kinh Vinh Danh (Gloria) có thể được hát nếu muốn.
2. Các bài đọc Kinh Thánh có thể được chọn từ Sách Bài đọc Thánh lễ (Lectionary for Mass), Tập IV, số 995, dành cho lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Một số bài đọc được đề nghị được liệt kê tại các số 9-12.
3. Đối với Lời nguyện Chung hay Lời nguyện Tín hữu, có thể sử dụng số 7 làm lời mời gọi cầu nguyện, số 14 cho các ý nguyện, và số 15 cho lời nguyện kết thúc.
4. Vào cuối Thánh Lễ, có thể ban Phép lành trọng thể. Khuyến khích sử dụng Phép lành trọng thể số 13 – Mùa Thường Niên V trong Sách Lễ Rôma.
Khi cử hành trong Phụng Vụ Lời Chúa:
5. Có thể hát một thánh ca thích hợp hay Ca Nhập Lễ Tv 33 (32): 11, 19
Chương trình CHÚA ngàn năm bền vững, ý định của lòng Người vạn kiếp trường tồn. hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn.
6. Dấu Thánh Giá Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
7. Lời Giới Thiệu Anh chị em thân mến,
Chúng ta hiện diện nơi đây để cử hành việc thánh hiến Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cho Trái Tim Cực Thánh Đức Chúa Giêsu.
Chúng ta hãy noi theo tình yêu và lòng thương xót mà Đức Kitô đã mặc khải cho chúng ta qua Trái Tim cực thánh của Người.
Khi cúi mình trước nhan Chúa, chúng ta hãy nhớ rằng chính nhờ Máu của Người, Đức Kitô đã xóa bỏ mọi chia rẽ, và từ muôn dân nước đã quy tụ nên một dân duy nhất của Thiên Chúa.
Khi tôn kính Thánh Tâm Chúa, chúng ta hãy suy niệm rằng chính chúng ta là những môn đệ của Đức Kitô, nên cũng phải bước theo Người, yêu thương không phải bằng những tâm hồn chai đá, nhưng bằng những tâm hồn sống động.
Vậy, chúng ta hãy hết lòng tham dự vào buổi cử hành này, để càng ngày càng hiểu rõ hơn mầu nhiệm tình yêu của Người và cảm nghiệm sâu xa hơn quyền năng của tình yêu ấy.
8. Lời Nguyện Mở Đầu:
Chúng ta hãy cầu nguyện. Lạy Thiên Chúa là Chúa chúng con, xin mặc cho chúng con những nhân đức của Thánh Tâm Con Chúa, và làm cho chúng con bừng cháy lửa mến yêu của Người, để, khi được nên đồng hình đồng dạng với Người, chúng con xứng đáng được thông phần vào ơn cứu chuộc muôn đời.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
9. Bài Đọc 1 * Đệ Nhị Luật 10:12-22
Trích sách Ðệ Nhị Luật:
Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, nào ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), có đòi hỏi anh (em) điều gì khác đâu, ngoài việc phải kính sợ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đi theo mọi đường lối của Người, yêu mến phụng thờ Người hết lòng, hết dạ, giữ các mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA và các thánh chỉ của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay, để anh (em) được hạnh phúc? ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), làm chủ cõi trời và các tầng trời cao nhất, cõi đất và muôn loài trong đó. Nhưng chỉ có cha ông của anh (em) là được ĐỨC CHÚA đem lòng quyến luyến yêu thương; sau các ngài, giữa muôn dân, Người đã chọn dòng dõi các ngài tức là anh em, như anh em thấy ngày hôm nay. Vậy anh em hãy cắt bì tâm hồn anh em và đừng cứng cổ nữa, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả uý, là Đấng không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ, là Đấng xử công minh cho cô nhi quả phụ, và yêu thương ngoại kiều, cho họ bánh ăn áo mặc. Anh em phải yêu thương ngoại kiều, vì anh em đã từng là ngoại kiều ở đất Ai-cập. Chính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), là Đấng anh (em) phải kính sợ; chính Người là Đấng anh (em) phải phụng thờ; anh (em) phải gắn bó với Người; anh (em) sẽ nhân danh Người mà thề; chính Người là Đấng anh (em) phải ca tụng; chính Người là Thiên Chúa của anh (em), Đấng đã làm cho anh (em) những điều lớn lao và khủng khiếp mà chính mắt anh (em) đã thấy đó. Cha ông của anh (em) chỉ có bảy mươi người khi xuống Ai-cập, mà bây giờ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đã làm cho anh (em) nên nhiều như sao trên trời.
Đó là Lời Chúa. / Tạ ơn Chúa.
* Bài Đọc 1 được trích từ bản dịch Lời Chúa cho Mọi Người của NPVGK
10. Thánh Vịnh Đáp Ca * Tv 25:4-5ab, 6 and 7bc, 8-9, 10 and 14.(6a)
Đ: Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu.
Lạy CHÚA, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con.
Đ: Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu.
Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng.
Đ: Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu.
CHÚA là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người.
Đ: Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu.
Tất cả đường lối CHÚA đều là yêu thương và thành tín đối với những kẻ nào giữ giao ước và lề luật Chúa. CHÚA xử thân tình với những ai kính sợ Chúa và cho họ biết giao ước của Người.
Đ: Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu.
* Thánh Vịnh được trích từ bản dịch Lời Chúa cho Mọi Người của NPDCGKPV
11. Tung hô Tin Mừng * Gioan 15:9
Alleluia, alleluia. Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Alleluia, alleluia.
12. Tin Mừng * Gioan 15:9-17
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan:
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là các con hãy yêu mến nhau” Ðó là lời Chúa. / Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa.
* Bài Tin Mừng được lấy từ Chúa Nhật Thứ Sáu Phục Sinh Năm B Nguồn: https://www.tonggiaophanhanoi.org/chua-nhat-vi-phuc-sinh-nam-b/
13. Bài Giảng hay Suy niệm.
14. Chuyển Cầu:
Chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Lêô. Xin cho vị hiền huynh người Hoa Kỳ của chúng ta có thể tin tưởng vào lòng thảo kính và sự nâng đỡ của chúng ta, khi ngài chăn dắt Hội Thánh hoàn vũ.
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các dân tộc trên thế giới. Xin cho anh chị em chúng ta khắp hoàn cầu được nhận biết tình yêu và ơn cứu độ của Đức Kitô qua các việc bác ái và Phúc Âm hoá của chúng ta.
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo đất nước chúng ta. Xin cho các quyền bất khả xâm phạm về sự sống, tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc thúc đẩy họ ghi khắc trong luật pháp phẩm giá của mọi sự sống con người, bảo vệ quyền tự do lương tâm tôn giáo, và nhìn nhận rằng hạnh phúc đích thực chỉ được tìm thấy nơi một mình Thiên Chúa.
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho người dân trong đất nước chúng ta. Xin cho chúng ta biết thực thi công lý đối với cô nhi qủa phụ, thân tiện với di dân, để khi tuân giữ lệnh truyền yêu thương nhau của Chúa, chúng ta có thể vượt thắng những thói hư của kẻ gian ác.
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
Chúng ta hãy cầu xin ơn tha thứ và chữa lành cho các tội lỗi trong quá khứ của chúng ta. Xin cho nước chúng ta được Thiên Chúa chúc lành và theo đuổi những lý tưởng cao đẹp, tìm được công lý, hòa bình và chấm dứt mọi xung đột do các tội ban đầu của quốc gia, là chế độ nô lệ và nạn phân biệt chủng tộc, gây ra, để chúng ta không còn làm nô lệ của tội lỗi, nhưng là bạn hữu của Thiên Chúa.
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những nhu cầu của cộng đoàn chúng ta.. (thêm các nhu cầu địa phương ở đây).
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người đã qua đời. Xin cho chứng từ đức tin của cha ông chúng ta khơi dậy nơi các công dân của cõi trần này lòng khao khát tìm kiếm Nước Thiên Chúa vĩnh cửu.
Đ: Lạy rất Trái Tim Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.
15. Kinh Thánh Hiến Tất cả cùng đọc:
Lạy Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu: Chúa thấu suốt những khát vọng của lòng chúng con, và Chúa ước mong chúng con vui hưởng tình bằng hữu với Chúa.
Từ cạnh sườn bị đâm thâu, Chúa đã tuôn đổ nguồn sống mà chúng con hằng khao khát. Trái Tim Chúa rực cháy lửa yêu thương mong cho mọi người trở về tái lập mối tương quan chân tình với Chúa.
Chúng con hân hoan tạ ơn vì những hồng ân dồi dào mà Chúa đã ban cho quốc gia này, được xây dựng trên những chân lý hiển nhiên rằng Đấng Tạo Hóa đã ban cho mọi người quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Chúng con xin đền tạ vì những xúc phạm đến Chúa và đến phẩm giá con người đã xảy ra trên đất nước này.
Xin cho lòng chúng con được kết hợp với Trái Tim Chúa, để gia đình và cộng đoàn chúng con được hưởng hòa bình và hạnh phúc; xin cho những mối quan hệ đổ vỡ được hòa giải, những bất công được sửa đổi, và những vết thương trên mảnh đất chúng con được chữa lành.
Xin cho Hội Thánh Công Giáo thánh thiện của Chúa trở nên dấu chỉ, dẫn đưa mọi người đến với tình yêu vô biên của Chúa.
Lạy Đấng lá Khát Vọng của Muôn Dân và Trung Tâm của Lịch Sử, chúng con nài xin Chúa chúc lành cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Thiên Chúa Cha, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần, đến muôn đời, Amen.
16. Kinh Lạy Cha.
Trong niềm mong đợi Nước Thiên Chúa ngự đến, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha:
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng; Nước Cha trị đến; ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con; xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.
17. Kết luận và Giải tán.
Xin Chúa chúc lành, gìn giữ chúng ta khỏi mọi sự dữ, và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.
Amen.
Chúc anh chị em đi bình an.
Tạ ơn Chúa.
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ - Thánh Hiến Nước Hoa Kỳ cho Thánh Tâm Chúa Giêsu
Lời Mời Gọi Trở Về Với Chúa Giêsu Thánh Thể
Dẫn nhập
Vào ngày 11 tháng 6 năm 2026, Hội Thánh Công Giáo tại Hoa Kỳ sẽ cử hành một biến cố thiêng liêng đặc biệt: thánh hiến Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. Biến cố này diễn ra trong dịp quốc gia kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc, nhưng ý nghĩa của nó vượt xa một dấu mốc lịch sử dân sự. Đây là một lời mời gọi thiêng liêng dành cho toàn thể Dân Chúa tại Hoa Kỳ: trở về với Đức Chúa Giêsu Kitô, nguồn mạch của tình yêu, lòng thương xót và hy vọng. Đối với cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, đây cũng là cơ hội quý báu để canh tân đời sống đức tin, đặc biệt trong bối cảnh Hội Thánh đang tiếp tục hành trình Phục Hưng Thánh Thể.
Một Biến Cố Đức Tin Trong Đời Sống Hội Thánh Hoa Kỳ
Trong truyền thống Công giáo, việc thánh hiến không đơn thuần là một nghi thức đạo đức, nhưng là hành vi dâng hiến chính mình, gia đình, cộng đoàn hay cả một dân tộc cho Thiên Chúa, đặt mọi sự dưới sự hướng dẫn, che chở và tình yêu cứu độ của Ngài. Khi các Giám mục Hoa Kỳ thánh hiến đất nước cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, đó là lời tuyên xưng rằng, giữa bao chia rẽ, bất ổn và khủng hoảng của xã hội hôm nay, con người chỉ có thể tìm được sự chữa lành và bình an đích thực nơi Đức Chúa Giêsu Kitô.
Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu vốn rất quen thuộc với người Công giáo Việt Nam. Hình ảnh Thánh Tâm với ngọn lửa tình yêu, vòng gai và thập giá nhắc chúng ta nhớ đến tình yêu tự hiến của Đức Kitô dành cho nhân loại. Từ cạnh sườn bị đâm thâu trên thập giá, máu cùng nước chảy ra, tượng trưng cho nguồn mạch sự sống của Hội Thánh và các bí tích cứu độ. Vì thế, việc thánh hiến cho Thánh Tâm Chúa không chỉ là một việc đạo đức bình dân, mà là một hành vi đức tin sâu sắc, đặt toàn thể đời sống dưới quyền thống trị yêu thương của Đức Kitô.
Thánh Tâm Chúa Giêsu và Hành Trình Phục Hưng Thánh Thể
Biến cố này có một ý nghĩa đặc biệt khi được đặt trong bối cảnh Phục Hưng Thánh Thể (National Eucharistic Revival) tại Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, Hội Thánh Hoa Kỳ mời gọi các tín hữu tái khám phá sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, vì Thánh Thể chính là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu.
Thật vậy, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu liên kết mật thiết với mầu nhiệm Thánh Thể. Nếu Thánh Tâm là biểu tượng của Tình Yêu cứu rỗi của Đức Kitô, thì Bí tích Thánh Thể chính là Tình Yêu ấy đang hiện diện thật giữa chúng ta. Trong Thánh Lễ, chúng ta không chỉ tưởng nhớ Tình Yêu của Chúa, nhưng thực sự gặp gỡ chính Đấng đã yêu thương chúng ta đến cùng. Vì thế, trở về với Thánh Tâm cũng chính là trở về với Thánh Thể.
Việc thánh hiến này cũng không phải là một biến cố riêng lẻ, nhưng là một phần trong hành trình canh tân lâu dài của Hội Thánh tại Hoa Kỳ. Sau Đại hội Thánh Thể Toàn quốc lần thứ 10 tại Indianapolis năm 2024, phong trào Phục Hưng Thánh Thể tiếp tục được triển khai như một nỗ lực biến các tín hữu trở thành những tông đồ Thánh Thể. Trong dòng chảy ấy, việc thánh hiến nước Hoa Kỳ cho Thánh Tâm Chúa Giêsu là một bước tự nhiên và sâu sắc: từ việc nhận ra Chúa hiện diện trong Bí tích Thánh Thể đến việc đáp lại bằng tình yêu, lòng tín thác và sự hoán cải.
Hành trình ấy cũng đang hướng tới Đại hội Thánh Thể Toàn quốc năm 2029, như một cột mốc mới trong công cuộc canh tân đời sống Công giáo tại Hoa Kỳ. Điều đó cho thấy Hội Thánh không chỉ tổ chức những biến cố lớn có tính nhất thời, nhưng đang kiên trì xây dựng một nền văn hóa Thánh Thể, trong đó các tín hữu được mời gọi gặp gỡ Chúa Giêsu cách cá vị để rồi được biến đổi và sai đi làm chứng cho Tin Mừng.
Những Chuẩn Bị Thiêng Liêng Cụ Thể
Để giúp các giáo phận, giáo xứ và các tín hữu chuẩn bị tâm hồn cho ngày trọng đại này, Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã phổ biến những tài liệu mục vụ rất thiết thực. Những tài liệu này đang được phiên dịch và sẽ được đăng trong https://phuchungthanhthe/thanhhien/.
Một trong số đó là nghi thức thánh hiến tại địa phương, giúp các giáo phận và giáo xứ có thể cử hành việc thánh hiến trong Thánh Lễ hoặc một cử hành phụng vụ Lời Chúa, để toàn thể cộng đoàn cùng hiệp thông với các Giám mục Hoa Kỳ trong ngày 11 tháng 6 năm 2026. Điều này cho thấy việc thánh hiến không chỉ là hành động của hàng giáo phẩm, nhưng là lời mời gọi dành cho toàn thể Dân Chúa.
Bên cạnh đó là Tuần Cửu Nhật kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, được thực hiện từ ngày 3 đến ngày 11 tháng 6 năm 2026 để chuẩn bị cho ngày thánh hiến. Tuần cửu nhật này được xây dựng dựa trên Kinh Cầu Thánh Tâm Chúa Giêsu, với những bài cầu nguyện, suy niệm và thực hành thiêng liêng phong phú. Mỗi ngày giúp các tín hữu chiêm ngắm một khía cạnh của tình yêu Đức Kitô: Thánh Tâm bừng cháy tình yêu, nguồn mạch công lý, lòng thương xót, sự an ủi, sự chữa lành, tinh thần đền tạ cùng sự hiền lành và khiêm nhường của Chúa Giêsu.
Đây là một cơ hội rất đẹp để các giáo xứ, hội đoàn và đặc biệt các gia đình Công giáo Việt Nam cùng tham gia, không chỉ như một hình thức đạo đức, nhưng như một hành trình chuẩn bị nội tâm để bước vào biến cố thánh hiến với một lòng tin sống động.
Lời Mời Gọi Dành Cho Người Công Giáo Việt Nam
Người Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ vốn mang theo một gia sản đức tin quý báu: lòng yêu mến Thánh Thể, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, đời sống kinh nguyện gia đình và sự gắn bó với Hội Thánh. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang sống giữa nhiều thách đố của xã hội hiện đại: nhịp sống quá bận rộn, ảnh hưởng của sự tục hóa, những chia rẽ xã hội, và nhất là nguy cơ thế hệ trẻ dần xa rời đời sống đức tin.
Vì thế, biến cố thánh hiến này không chỉ là một sự kiện dành cho Hội Thánh Hoa Kỳ nói chung, nhưng là lời mời gọi dành cho từng gia đình Công giáo Việt Nam. Đây là dịp để mỗi người tự hỏi: Chúa Giêsu có thật sự ở trung tâm gia đình tôi không? Tôi có dành thì giờ cho Thánh Lễ và Thánh Thể không? Con cái chúng ta có được hướng dẫn để yêu mến Chúa và sống đời sống đức tin không?
Kết luận:
Từ Phong trào Phục Hưng Thánh Thể, đến việc thánh hiến nước Hoa Kỳ cho Thánh Tâm Chúa Giêsu năm 2026, và hướng tới Đại hội Thánh Thể Toàn quốc năm 2029, Hội Thánh tại Hoa Kỳ đang mời gọi mọi tín hữu trở về với trung tâm đời sống Kitô hữu: chính Chúa Giêsu Kitô đang hiện diện thật trong Bí tích Thánh Thể.
Ước gì biến cố này không chỉ là một nghi thức mang tính toàn quốc, nhưng trở thành cơ hội để cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ canh tân lòng yêu mến Chúa, sống gần Thánh Thể hơn, và để Thánh Tâm Chúa Giêsu thực sự trở thành trung tâm đời sống gia đình, cộng đoàn và xã hội chúng ta.
Phaolô Phạm Xuân Khôi tổng lược từ trang web của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.
DIOCESAN NEWS - WHY DO WE HAVE AN OBLIGATION TO ATTEND MASS?-I
16 April 2021
A Catechesis on the Third Commandment in Light of the Resurrection by Father Andrew Heaslip, Diocesan Director of Religious Education, Diocesan Coordinator of Digital Media, Director of the TV Mass for the Homebound.
In his press release issued on Wednesday of Holy Week restoring the Sunday and holy day Mass obligation, Bishop Conley mentioned that the Southern Nebraska Register would be publishing a catechetical series on this obligation.
In my last article on livestreaming the Mass, I attempted to share my personal, and to some extent, catechetical reflections on why livestreaming the Mass is a blessing, albeit an awkward one, and even more why it is necessarily more valuable to be physically and spiritually present at the Mass whenever it is available.
In this article I’d like to shift from those personal and partly catechetical reflections to a catechesis specifically on the third commandment in light of the Resurrection of Jesus because it is here where we will begin to understand the context of why there is a Sunday Mass obligation in the first place.
The goal of this catechesis, then, is to understand the meaning of the third commandment in the Old Covenant, in order to clearly see how its obligatory nature both continues and is fulfilled in the New Covenant by the practice of keeping holy the Lord’s Day, that is, the day on which the Lord Jesus rose from the dead.
The Third Commandment
In the book of Exodus, we learn that God revealed to the people of Israel on Mt. Sinai the commandment, “Remember the sabbath day, to keep it holy. Six days you shall labor, and do all your work; but the seventh day is a sabbath to the LORD your God; in it you shall not do any work… for in six days the LORD made heaven and earth, the sea, and all that is in them, and rested the seventh day; therefore the LORD blessed the sabbath day and hallowed it” (20:8-11).
We see in this text that the third commandment is deeply tied to the six days of creation. In fact, the word sabbath (sabbath) means the seventh day of the week and a day of rest; it is derived from the Hebrew word sabbath which means “to cease or to rest.” The idea here is that the Sabbath is the day on which God ceased his work of creation in order to bring rest and blessing to the seventh day. Hence, in the Old Covenant, the observance of the Sabbath entailed, among other things, remembrance of the Lord’s work of creation and rest from work and manual labor.
Moreover, like all of the Ten Commandments, the third commandment too was given in the context of God’s work of liberating or redeeming the people of Israel from slavery.
The Decalogue (Ten Commandments) begins with the words, “I am the LORD your God, who brought you out of the land of Egypt, out of the house of bondage” (Ex 20:2). Likewise, the expression of the third commandment in Deuteronomy adds, “You shall remember that you were a slave in the land of Egypt, and the LORD your God brought you out thence with a mighty hand and an outstretched arm; therefore the LORD your God commanded you to keep the sabbath day” (15:5).
We see here that the third commandment is deeply tied also to God’s work of redemption or liberation from slavery, that is, when He freed his people from Egypt and formed a covenant relationship with them on Mt. Sinai. Hence, in the Old Covenant the obligation of remembrance “You shall remember” includes God’s work not only of creation but also of redemption.
In the third commandment, then, we not only learn of the sacred importance of the Sabbath and the requirement or obligation to keep it holy through remembrance and rest but also discover the deepest reasons for this obligation: the Sabbath is directly connected to the blessing and holiness of the Lord’s work of creation and to the mighty power of His liberating work of redemption.
Sabbath to Sunday
The first question that ordinarily arises in view of the third commandment to keep holy the Sabbat (that is, the seventh day, Saturday) is why do Christians observe this commandment not on Saturday but on Sunday? Indeed, among the most traditional enumerations of the Commandments in the Church we find the third Commandment expressed, “Remember to keep holy the Lord’s Day.”
In apostolic times we hear this same reference; for example, in the book of Revelation, a book with profound liturgical undertones, St. John says, “I was in the Spirit on the Lord’s day...” (1:10). Likewise, one of John’s disciples, St. Ignatius of Antioch who died around 108 AD says, “those who lived according to the old order of things have come to a new hope, no longer keeping the sabbath, but the Lord’s Day.”
Also, St. Justin Martyr witnessed to this distinctive and ancient Christian practice around the year 155 AD when he wrote, “We all gather on the day of the sun, for it is the first day as opposed to the seventh day.” What is clear from these and other ancient accounts is that the movement from Sabbath to Sunday, the Lord’s day, was a distinctive characteristic of the early Christian communities from the beginning.
The Resurrection
This radical shift in religious practice should make us pause because in it there is a profound witness to the Resurrection of Jesus, which is the singular reason it occurred. In first century Judaism there was enormous importance attached to the Sabbath and its observance; we see references to this, for example, throughout first century Jewish texts and even in the Gospels themselves. Hence, “only an event of extraordinary impact could have led to the abandonment of the Sabbath and its replacement by the first day of the week” (Ratzinger, Jesus of Nazareth II).
The extraordinary historical event was the Resurrection of Jesus from the dead on the third day after his crucifixion, that is, at an unknown moment on the first day of the week, Sunday. Only something this remarkable could have brought about such a change in the deeply rooted religious culture surrounding the Sabbath. This change is one of the most convincing arguments from a historical perspective that something astonishing must have occurred at the beginnings of Christianity.
New Creation and Redemption
This event, the Resurrection, is the reason why Christians observe Sunday instead of the Sabbath. Nevertheless, the deepest meaning of the Sabbath and the commandment to keep it holy is in no way abandoned by Christians but rather fulfilled.
We saw that the Sabbath and the biblical expressions of the third commandment were directly tied to the first creation and to Israel’s redemption from Egypt. These events have been fulfilled in Jesus Christ. The Resurrection of Jesus from the dead on the first day of the week, in fact, begins the New Creation. Indeed, the creation of the visible world and of humanity find their meaning and summit in this new creation in Christ, or St. Paul says, “if any one is in Christ, he is a new creation; the old has passed away, behold, the new has come” (2 Cor 5:17).
Likewise, the paschal mystery of Jesus’ suffering, death, and Resurrection has brought Redemption to the human race. God’s work of liberating His people from slavery, Egypt, and pharaoh has come to fulfillment in His Son, Jesus who has redeemed us from sin, the world, and Satan.
Or, again, as St. Paul says, “In him we have redemption through his blood, the forgiveness of our trespasses, according to the riches of his grace which he lavished upon us” (Eph 1:7-8). Thus, the ancient meaning of the Sabbath has come to its culmination in the Resurrection of Christ on the first day of the week.
Remembrance and Rest
Likewise the obligations of the third commandment—to remember and to rest—continue in the New Covenant, but now as a living remembrance, especially in the eucharistic liturgy, of God’s supreme work of redemption and of making us a new creation in Christ, and now as a rest not only from work and servile labor but also as a rest which looks forward in hope to definitively “entering into God’s rest” in eternal life (cf. Heb 4:1-11).
This catechesis on the third commandment in light of the Resurrection hopefully helps us to see why there is a perpetual obligation of remembrance and rest on the Lord’s Day.
Likewise, I hope it helps us begin to understand why even when there is a legitimate dispensation from being present at the eucharistic liturgy or even when one is rightly excused from Mass because he or she is physically or morally prevented from attending, the obligations on Sunday of remembering of the Lord’s redeeming work and of rest that looks toward the definitive rest of eternal life can never be dispensed—the third commandment and its evangelical fulfillment come from God.
In the next catechesis on the Sunday and holy day Mass obligation I hope to continue this consideration on remembrance in view of the first precept of the Church: “You shall attend Mass on Sundays and holy days of obligation.”
This precept, which though at times can be dispensed as we all experienced during COVID-19, is a grave obligation that requires the faithful to participate in the Eucharistic liturgy because the liturgy is the supreme living remembrance which makes present Jesus’ redeeming work of the cross and Resurrection and, indeed, is carried out according to Jesus’ command, “Do this in remembrance of me” (Lk 22:19).
WHY DO WE HAVE AN OBLIGATION TO ATTEND MASS?-II
07 May 2021
A catechesis on the First Precept of the Church in light of Jesus’ institution of the Eucharist by Father Andrew Heaslip, Diocesan Director of Religious Education, Diocesan Coordinator of Digital Media, Director of the TV Mass for the Homebound.
In our last catechesis on keeping holy the Lord’s day and the Resurrection, we saw how the third commandment is deeply tied to creation and redemption, and how the Old Testament obligations of remembrance and rest on the Sabbath are fulfilled in Jesus Christ who brings about the new creation and the redemption of the human race through his cross and in his resurrection on the third day, Sunday.
In this catechesis I would like to draw from our previous reflections and focus on the first precept of the Church in view of Jesus’ institution of the Eucharist when he said, “Do this in remembrance of me” (Lk 22:19). The goal of this catechesis is to help us understand why there is a grave obligation to attend Mass on Sundays and Holy days and, even more, why this obligation is something we should freely want to fulfill whenever it is available.
The First Precept of the Church
The first precept of the Church is, “You shall attend Mass on Sundays and holy days of obligation” (CCC 2042). This precept requires the faithful to participate, that is, to be physically and consciously present at the Eucharistic liturgy when the Christian community gathers together for Sundays and Holy days of obligation. This precept is distinct from but deeply related to the third commandment, as well as other Jewish feasts of remembrance in the Old Covenant, both of which Jesus brought to fulfillment in the New Covenant.
Sunday Obligation
We saw in our last catechesis that one of the fundamental obligations of the third commandment is remembering God’s work of creation and redemption: “Remember the sabbath day... for in six days the LORD made heaven and earth... and rested the seventh day” (Ex 20:8-11) and “You shall remember that you were a slave in the land of Egypt, and the LORD your God brought you out thence with a mighty hand…” (Deut 15:5). We’ve already seen how this commandment continues and is fulfilled in the passion and, especially, the resurrection of Jesus on Sunday.
The point I would like to make here is: the precept to participate in the Eucharistic liturgy on Sunday, while distinct from the third commandment, realizes the command of remembrance in the fullest way possible because it is the supreme living remembrance of Jesus’ redeeming work on the cross and in the resurrection. The Mass makes his sacrifice for sins and his risen body actually present – living – and is carried out according to his words, “Do this in remembrance of me” (Lk 22:19). Hence, the part of the first precept of the Church that pertains to Mass on Sunday flows directly from the third commandment’s obligation to remember.
Holy Days of Obligation
What about other holy days of obligation? In addition to the weekly observance of the Sabbath, now fulfilled on the Lord’s day, Sunday, the people of Israel also celebrated many other feasts of remembrance. They occurred on fixed days and seasons of the year and included specific liturgical practices. For example, the great Jewish feast of Passover occurred on the 14th of the first month of the Jewish calendar and obliged the Israelites to celebrate it with specific ceremonies such as families coming together to partake of a Passover lamb. God and his chosen leader, Moses, instituted this feast and its specific liturgical practices, again, for the purpose of remembrance: “that all the days of your life you may remember the day when you came out of the land of Egypt” (Deut 16:3).
Similarly, the holy days of obligation in the New Covenant such as Christmas, Mary the Mother of God, the Ascension, All Saints Day, and the Immaculate Conception occur on fixed days or seasons and oblige God’s people to come together in the liturgy in order to celebrate God’s mighty works which have come to fulfillment in the mysteries of the Christian faith. Likewise, God’s appointed leaders, the successors of the apostles, instituted these holy days of obligation as a means of commemorating (remembering and celebrating) the great mysteries of faith and salvation from which all the family of God benefits. Hence, holy days of obligation are occasions of grace and remembrance; they have a certain connection with and precedent in the feasts of the Old Covenant, yet are ultimately rooted in the life and mysteries of Jesus and the authority of his Church, both of which are a fulfillment of the Old Covenant.
The first precept of the Church, then, has its obligatory character and can be dispensed because it is based in the pastoral authority of the pope and bishops who are the successors of Peter and the apostles who, in turn, were commanded by Jesus to celebrate the Eucharist, “...in remembrance of me.” This is, among other reasons, why there is a grave obligation to attend Mass on Sundays and holy days, and why it can be dispensed for serious reasons such as our recent global pandemic.
The Institution of the Eucharist
The first precept of the Church, moreover, has its deepest reason in the gift that Jesus gave on the night he was betrayed, when he instituted the Eucharist. It is in this gift and the prayerful words and actions surrounding this gift that we discover why we should long for and freely want to participate in the Eucharist. What is this gift? It is the gift of Jesus himself.
When He instituted the Eucharist before His passion, Jesus established the perpetual memorial of his suffering, death, and resurrection which has redeemed the world. This truth is contained in the very words that Jesus used at the last supper. When he took bread, he said, “This is my body which is given for you” (Lk 22:19) and when he took the wine, he said, “this is my blood of the covenant, which is poured out for many for the forgiveness of sins” (Mt 26:28).
An important point to realize here is that these actions and words of Jesus anticipated the sacrifice of his body and the pouring out of his blood on the cross. When he said to the apostles, “do this in remembrance of me,” what they were to remember was not simply the last supper but the crucifixion, its meaning, and the resurrection. The words “given for you” and “poured out for many” which the apostles heard with their ears at the last supper took on meaning only after Jesus’ ordeal of Roman crucifixion when he gave his body to be nailed to the cross unto death, and when the solider lanced his side causing his blood to pour out.
The command of remembrance, however, included not merely the recollection of the physical details of the suffering and death of Jesus but also, and especially, the meaning of them. The cross manifests Jesus’ love “to the end” (Jn 13:1); it is accomplished “for the forgiveness of sins,” “for our sins” (1 Cor 15:3); and it is the beginning of a “new covenant,” that is, a new and living relationship with God in his Son, Jesus. This gift of the Eucharist which Jesus instituted at the last supper and which the apostles were to do in remembrance of him took on its full meaning for them only after the crucifixion and resurrection; and it took them and the early disciples time to awaken to this full meaning.
Remembrance
The scriptural term remembrance, in fact, implies this type of awakening, that is, a realization of the reality of God and the work he has done (see for example, Num 10:10). We see this awakening to God’s work in the accounts of Jesus’ appearances to his disciples after the resurrection. For example, on the road to Emmaus, Jesus converses with two of his disciples who do not realize that it is him. It is only after he opens the scriptures to them about the meaning of the Messiah’s suffering and glory and, most of all, when he takes bread, blesses it, breaks it, and gives it—the same actions he performed at the last supper—that they finally realize or awaken to the reality that it is him. At that moment he vanished from their sight. Yet, he was helping them to realize that he is, and is going to be, present to them in a new way, that is, in the breaking of the bread which is the most ancient name for the Eucharistic liturgy. Indeed, after realizing it was the Lord, those two disciples told the apostles that, “he was made known to them in the breaking of the bread” (Lk 24:35).
It is with this full meaning of remembrance, which includes not only a recollection but also a realization of the living reality, that the apostles and early Church celebrated the Eucharist (see 1 Cor 11:23-27). So, it is with the Eucharistic liturgy in every age: when the Mass is celebrated it is done in remembrance of Christ whose passion and resurrection are not only recalled but also made present.
When we assemble together for the Mass it is truly a time when the Lord awakens us anew to his presence and his work of salvation. Indeed, nothing brings us closer to Jesus and to one another than the celebration of the Eucharist. It is there where we encounter his love to the end, it is there where we are renewed in the new and everlasting covenant relationship with God, and it is there where we can receive the crucified and now Risen Lord. These are the deepest reasons why there is a precept to attend Mass on Sundays and holy days of obligation and they are why we should long to realize this precept.
I hope that this two-part catechesis on the Sunday and holy day Mass obligation has been helpful not only for understanding but also for inspiration. It was written in anticipation of and preparation for May 23, the Solemnity of Pentecost, when this obligation will be restored in the Lincoln Diocese. May the Holy Spirit draw us together anew into Christ Jesus at the Eucharistic liturgy.
THÔNG BÁO
LỜI CHÚA HÀNG TUẦN
Chúa Nhật XXVIII Thường Niên A - TIN MỪNG: Mt 22,1-14.
“Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.”
Tin Mừng Chúa Giêsu Ki-tô theo Thánh Mát-thêu:
Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: “Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: “Này cỗ bàn, ta đã dọn xong. Bò tơ và thú béo đã hạ rồi. Mọi sự đã sẵn. Mơi quý vị đến dự tiệc cưới!” Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: Kẻ thì đi thăm trại, người thi đi buôn. Còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết. Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy, và thiêu hủy thành phố của chúng. Rồi nhà vua bảo đầy tớ: “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới. Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách. Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát thực khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục tiệc cưới mới hỏi người ấy: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” Người ấy câm miệng không nói được gì. Bấy giờ, nhà vua bảo những người phục dịch: “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít”.
Đó là Lời Chúa.
I. GỢI Ý & SUY NIỆM:
Đức Giê-su trình bày dụ ngôn tiệc cưới, ám chỉ lịch sử ơn cứu độ của Thiên Chúa qua hai giai đoạn chính như sau: Đầu tiên Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi dân riêng Ít-ra-en gia nhập vào Nước Trời do Đấng Thiên Sai thiết lập, nhưng họ đã từ chối tình thương cứu độ của Người. Tiếp đến, Thiên Chúa mời gọi tất cả các dân tộc gia nhập Nước Trời. Tuy nhiên muốn được tham dự vào bàn tiệc Nước Trời đời sau, đòi người ta phải mặc y phục lễ cưới, tức là phải có “lòng ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng” do Chúa Giê-su rao giảng. Ai cố tình không mặc y phục lễ cưới sẽ không được vào dự tiệc Nước Trời.
A. GỢI Ý:
1. Ngôn sứ Isaia loan báo một bữa tiệc do Thiên Chúa thết đãi muôn dân. Qua bữa tiệc này, Ngài sẽ cất khỏi họ nỗi u sầu, buồn bã vì Ngài là Đấng cứu độ họ. Tôi cũng được mời lên núi dự tiệc vui với Chúa, tôi có sẵn sàng nghe theo tiếng mời gọi của Ngài? Chỉ có Chúa mới là Đấng cứu độ tôi, tôi có tin tưởng, phó thác nơi tình thương và quyền năng của Chúa? Tôi có để cho Ngài cất đi những phiền muộn, lo lắng, nặng nề trong cuộc sống?
2. Thư Philípphê kể lại sự dấn thân quyết liệt của thánh Phaolô vì Đức Kitô và Tin Mừng. Đối với thánh nhân, có Đức Kitô là có tất cả. Đức Kitô là chân giá trị tuyệt đối, còn những gì khác chỉ mang tính phụ thuộc. Đức Kitô có nằm trong số các bậc thang giá trị mà tôi vẫn hằng theo đuổi? Đức Kitô có là ưu tiên chọn lựa của tôi? Tôi có dám hy sinh những điều khác để được Đức Kitô làm lẽ sống đời mình?
3. Bài Tin Mừng làm nổi bật chủ đề Nước Trời. Nước Trời là một lời mời gọi tất cả mọi người đến dự tiệc vui với Chúa, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi người ta phải chọn lựa chấp nhận hay từ chối, cùng với những điều kiện kèm theo. Tôi có nghe thấy lời mời gọi thiết tha của Chúa đến dự tiệc vui Nước Trời? Tôi chấp nhận hay từ chối lời mời gọi của Ngài? Tôi có sẵn sàng hy sinh những gì riêng tư, chấp nhận những điều kiện, để được vào Nước Trời?
B. SUY NIỆM:
Trong cuộc sống, một lời mời thường diễn tả mối tương quan giữa người mời và người được mời. Khi mời ai đến dự một bữa tiệc, người chủ không chỉ dành cho họ một chỗ ngồi, mà còn muốn họ cùng chia sẻ niềm vui và sự hiệp thông. Vì thế, được mời là một ân huệ; nhưng lời mời chỉ đạt tới ý nghĩa trọn vẹn khi người được mời đón nhận và đáp lại. Lời Chúa hôm nay dùng hình ảnh bữa tiệc để diễn tả mầu nhiệm Nước Trời và mở ra một tiến trình rõ ràng của đời sống đức tin: Thiên Chúa mời gọi con người vào dự tiệc Nước Trời; con người được mời gọi tự do đáp lại; và khi đã đáp lời, họ phải để ân sủng biến đổi đời mình. Đó cũng là ba bước trên hành trình theo Chúa: được mời – đáp lời – biến đổi.
1. Được mời vào dự tiệc Nước Trời:
Khởi điểm của đời sống đức tin không nằm ở sáng kiến của con người, nhưng ở sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Người đi bước trước, chuẩn bị và mời gọi. Ngôn sứ Isaia diễn tả ơn cứu độ bằng một hình ảnh đầy sức sống: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc” (Is 25,6). Đáng chú ý, bữa tiệc ấy không dành riêng cho một nhóm người, nhưng cho “muôn dân” (Is 25,6). Ơn cứu độ phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa và được mở ra cho mọi người; Người muốn quy tụ nhân loại vào niềm vui và sự sống của Người. Bữa tiệc ấy còn diễn tả một thực tại lớn lao hơn sự no thỏa về vật chất. Isaia loan báo: “Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người” (Is 25,8). Như thế, được mời vào bàn tiệc của Thiên Chúa là được mời bước vào một thế giới mới, nơi sự chết bị tiêu diệt, nước mắt được lau khô và con người được sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, nguồn mạch của sự sống.
Dụ ngôn Tin Mừng tiếp tục hình ảnh ấy: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình” (Mt 22,2). Mọi sự đã được chuẩn bị trước khi khách đến. Nhà vua dọn tiệc rồi sai đầy tớ đi mời. Các vị khách không tạo nên bữa tiệc, cũng không phải trả giá để có một chỗ trong phòng tiệc; họ được mời đến để hưởng niềm vui mà nhà vua đã chuẩn bị. Hình ảnh ấy cho thấy đặc tính nhưng không của ơn cứu độ: trước khi con người tìm kiếm Thiên Chúa, Thiên Chúa đã đi tìm con người; trước khi chúng ta có thể làm điều gì cho Người, chúng ta đã là những người lãnh nhận. Giáo lý Hội Thánh Công giáo khẳng định rằng mọi người đều được Đức Giêsu mời gọi bước vào Nước Thiên Chúa; ngay cả người tội lỗi cũng được Người mời vào bàn tiệc Nước Trời, được kêu gọi hoán cải và đón nhận lòng thương xót vô biên của Chúa Cha (GLHTCG, số 543; 545). Điều này được diễn tả cụ thể ở cuối dụ ngôn: khi những khách được mời trước không đến, nhà vua truyền: “Vậy các ngươi đi ra các nẻo đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới” (Mt 22,9). Lời mời được mở rộng, bởi Thiên Chúa muốn mọi người được bước vào hưởng niềm vui cứu độ.
Mỗi người chúng ta cũng đang sống trong lời mời ấy. Chúng ta được Chúa gọi qua Bí tích Rửa Tội, qua Lời Chúa, các Bí tích, đời sống Giáo hội và biết bao biến cố của cuộc đời. Đặc biệt, mỗi Thánh lễ là một lần Thiên Chúa quy tụ chúng ta quanh bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, vừa nuôi dưỡng chúng ta trên hành trình trần thế, vừa hướng chúng ta tới bàn tiệc viên mãn trong Nước Trời. Vì thế, căn tính Kitô hữu trước hết là căn tính của một người đã được Thiên Chúa yêu thương và mời gọi.
2. Đáp lại lời mời của Thiên Chúa:
Nếu phần thứ nhất nhấn mạnh sáng kiến của Thiên Chúa, thì phần thứ hai đặt chúng ta trước trách nhiệm của con người. Được mời là ân huệ, nhưng đáp lại lời mời là một lựa chọn. Nhà vua đã chuẩn bị mọi sự và nhắn: “Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!” (Mt 22,4). Thế nhưng, những người được mời lại không đến, “kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn” (Mt 22,5). Thăm trại hay buôn bán đều là những công việc chính đáng. Nhưng khi quá bận tâm đến những việc ấy, họ đã xem nhẹ lời mời của nhà vua và bỏ lỡ bữa tiệc dành cho mình.
Đây cũng là một nguy cơ rất gần với đời sống đức tin hôm nay. Có khi chúng ta không công khai từ chối Thiên Chúa; chúng ta chỉ để quá nhiều điều khác chen vào giữa mình với Người. Công việc, gia đình, các mối quan hệ, giải trí và những nhu cầu hằng ngày đều có giá trị riêng. Nhưng nếu không biết đặt chúng vào một trật tự đúng đắn, chúng có thể dần chiếm hết thời giờ, tâm trí và trở thành những ưu tiên hàng đầu của chúng ta. Khi ấy, chúng ta vẫn tin Chúa nhưng không còn đặt Người ở vị trí trung tâm; đời sống đức tin vẫn tồn tại nhưng chỉ còn là một phần nhỏ bên cạnh nhiều mối bận tâm khác. Đức Thánh Cha Phanxicô cảnh báo rằng khi đời sống nội tâm bị cuốn vào những lợi ích và bận tâm riêng, con người dần không còn nghe được tiếng Chúa và không còn cảm nhận niềm vui từ tình yêu của Người; đây cũng là một nguy cơ rất thực đối với các tín hữu (EG, số 2). Vì thế, ngài mời gọi mọi Kitô hữu hãy làm mới lại cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, bởi mỗi khi chúng ta tiến một bước về phía Đức Giêsu, chúng ta nhận ra Người đã ở đó chờ đợi chúng ta với vòng tay rộng mở (EG, số 3). Như vậy, đáp lại lời mời của Thiên Chúa không chỉ là chu toàn một số bổn phận tôn giáo, nhưng trước hết là mở lòng gặp gỡ Đức Kitô và dành cho Người vị trí trung tâm trong cuộc đời mình.
Bài đọc thứ hai cho thấy sự đáp trả ấy nơi thánh Phaolô. Sau khi gặp Đức Kitô, ngài đã đặt trọn niềm tín thác vào Người. Vì thế, Phaolô có thể nói: “Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,12-13). Điều làm nên sức mạnh của Phaolô không phải là hoàn cảnh luôn thuận lợi, nhưng là Đức Kitô đã trở thành điểm tựa và trung tâm của đời ngài. Vì thế, đáp lại lời mời của Thiên Chúa không chỉ là một quyết định đã thực hiện trong quá khứ, nhưng là một lựa chọn phải được làm mới mỗi ngày. Giữa rất nhiều tiếng gọi, đâu là vị trí chúng ta dành cho Chúa? Giữa nhiều công việc, chúng ta có còn dành thời giờ cho cầu nguyện, Thánh lễ, Lời Chúa và việc bác ái? Có điều gì đang chiếm vị trí vốn phải dành cho Thiên Chúa trong cuộc đời mình? Bàn tiệc đã sẵn sàng, lời mời đã được gửi đến; nhưng chính mỗi người phải quyết định mình sẽ đáp lại thế nào.
3. Biến đổi để xứng với lời mời:
Đáp lại lời mời và bước vào phòng tiệc vẫn chưa phải là điểm cuối của hành trình. Đức Giêsu còn kể một chi tiết gây ngạc nhiên: nhà vua bước vào phòng tiệc và thấy một người không mặc y phục lễ cưới. Ông hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” (Mt 22,12). Người ấy lặng thinh. Chi tiết này làm sáng tỏ bước thứ ba: được mời là ân huệ, đáp lời là lựa chọn, còn biến đổi là hệ quả cần thiết của việc đón nhận lời mời. Thiên Chúa mở rộng cửa Nước Trời cho mọi người, kể cả những người được tìm thấy ngoài đường; nhưng bước vào phòng tiệc không có nghĩa là con người có thể tiếp tục giữ nguyên lối sống cũ. Ân sủng không chỉ đưa con người đến gần Thiên Chúa, mà còn phải dần biến đổi họ để sống phù hợp với ân huệ đã lãnh nhận.
Vì thế, “y phục lễ cưới” có thể được hiểu như hình ảnh của đời sống mới phù hợp với Tin Mừng. Một người có thể mang danh Kitô hữu, tham dự các cử hành phụng vụ và hiện diện trong cộng đoàn, nhưng nếu Tin Mừng không đi vào cách suy nghĩ, nói năng, sử dụng của cải, đối xử với tha nhân và chu toàn trách nhiệm, thì việc “có mặt trong phòng tiệc” vẫn chưa đủ. Đức tin chân thật không dừng lại ở điều chúng ta tuyên xưng, nhưng phải dần trở thành điều chúng ta sống. Thông điệp Lumen Fidei diễn tả điều này rất rõ: đức tin biến đổi toàn thể con người trong mức độ họ mở lòng đón nhận tình yêu (LF, số 26). Khi đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, con người được biến đổi từ bên trong và được ban cho một cái nhìn mới về chính mình, tha nhân và cuộc sống. Như thế, đức tin không phải là một phần được thêm vào bên cạnh những phần khác của cuộc đời, nhưng phải trở thành ánh sáng soi chiếu và định hướng toàn bộ đời sống.
Sự biến đổi ấy diễn ra trong những lựa chọn cụ thể mỗi ngày: người nóng nảy tập sống hiền hòa; người ích kỷ học biết chia sẻ; người quen xét đoán tập nhìn người khác với lòng cảm thông; người gian dối trở về với sự thật; người chỉ tìm lợi ích cho mình biết quan tâm đến nhu cầu của tha nhân. Đó còn là biết tha thứ trong gia đình, trung thực trong công việc, công bằng với người khác, giữ lời hứa, quan tâm đến người đau yếu và dành chỗ cho người nghèo. Chính trong những lựa chọn ấy, “y phục lễ cưới” của người môn đệ được dệt nên từng ngày. Tuy nhiên, sự biến đổi ấy không chỉ là kết quả của cố gắng cá nhân. Lời thánh Phaolô đem lại cho chúng ta niềm hy vọng: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,13). Đức Kitô không chỉ mời chúng ta đến bàn tiệc, mà còn ban sức mạnh để chúng ta sống xứng hợp với lời mời đã lãnh nhận. Chính ân sủng của Thiên Chúa mời gọi chúng ta, nâng đỡ chúng ta đáp lời và tiếp tục biến đổi chúng ta mỗi ngày.
Kết luận:
Điều Thiên Chúa trao ban không dừng lại ở một lời mời, nhưng mở ra một tương quan đòi hỏi con người phải đáp lại bằng cả cuộc sống. Người đã chuẩn bị bàn tiệc và rộng mở cửa đón nhận mọi người; phần chúng ta là đừng để lời mời ấy trôi qua cách hờ hững, nhưng biết để cho ân sủng Chúa chạm đến, uốn nắn và làm mới con người mình theo tinh thần Tin Mừng. Vì thế, câu hỏi không chỉ là: Tôi có được Chúa mời không? Bởi lời mời đã được trao cho mỗi người. Điều cần tự hỏi là: Tôi đang đáp lại lời mời ấy thế nào, và việc gặp gỡ Chúa đã biến đổi đời tôi đến đâu? Mỗi Thánh lễ là một lần lời mời ấy lại vang lên. Chúa đã chuẩn bị bàn tiệc và dành cho chúng ta một chỗ. Xin cho chúng ta đừng vì những bận tâm chóng qua mà bỏ lỡ lời mời quý giá ấy, nhưng biết đáp lại lời mời của Chúa và để mỗi lần gặp gỡ Người trở thành một bước biến đổi đời mình. Nhờ đó, khi hành trình trần thế kết thúc, chúng ta được bước vào bàn tiệc viên mãn mà ngôn sứ Isaia đã loan báo, nơi Thiên Chúa “sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần” và “lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người” (Is 25,8).
II. CẦU NGUYỆN:
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con. Xin cho con biết luôn quên mình để làm mọi việc vì lòng yêu mến Chúa. Xin cho con biết khiêm hạ, luôn làm việc để tôn vinh Thiên Chúa và góp phần cứu rỗi tha nhân. Ước gì con biết hãm mình và luôn sống trong tình thương của Chúa. Ước gì con biết đón nhận tất cả những gì xảy đến cho con và kiên trì vác thập giá mình hằng ngày mà bước đi theo Chúa đến cùng. Xin đừng để điều gì thuộc về trần gian kéo con lạc xa Chúa. Xin thương xót con và giúp con gia tăng lòng tin yêu Chúa, hầu sau này đáng được Chúa đón nhận vào dự tiệc Nước Trời đời đời. Amen.
GOSPEL (Mt 22:1-14):
Jesus again in reply spoke to the chief priests and elders of the people
in parables, saying,
The kingdom of heaven may be likened to a king
who gave a wedding feast for his son.
He dispatched his servants
to summon the invited guests to the feast,
but they refused to come.
A second time he sent other servants, saying,
Tell those invited: “Behold, I have prepared my banquet,
my calves and fattened cattle are killed,
and everything is ready; come to the feast.”
Some ignored the invitation and went away,
one to his farm, another to his business.
The rest laid hold of his servants,
mistreated them, and killed them.
The king was enraged and sent his troops,
destroyed those murderers, and burned their city.
Then he said to his servants, “The feast is ready,
but those who were invited were not worthy to come.
Go out, therefore, into the main roads
and invite to the feast whomever you find.”
The servants went out into the streets
and gathered all they found, bad and good alike,
and the hall was filled with guests.
But when the king came in to meet the guests,
he saw a man there not dressed in a wedding garment.
The king said to him, “My friend, how is it
that you came in here without a wedding garment?”
But he was reduced to silence.
Then the king said to his attendants, “Bind his hands and feet,
and cast him into the darkness outside,
where there will be wailing and grinding of teeth.”
Many are invited, but few are chosen.”
The Gospel of the Lord.
Ban Mục Vụ Phụng Tự
Lm. Đan Vinh
Lm. Anthony Trung Thành
CÂU CHUYỆN HÀNG TUẦN
HOẠT HÌNH KINH THÁNH
NHẠC THÁNH CA
ANRÊ DŨNG LẠC-Điện thoại (402) 423-2005 &(402) 937-5699
9210 1St Lincoln, NE 68526
ANRÊ DŨNG LẠC